Cúm B có ảnh hưởng đến thai nhi không? Làm sao để phòng ngừa?

Theo dữ liệu từ Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) Hoa Kỳ, gần 50% số ca nhập viện liên quan đến cúm trong mùa dịch năm 2022 là phụ nữ mang thai. Mặc dù cúm B chỉ chiếm khoảng 23% trong tổng số ca cúm trên thế giới, nhưng đây là loại bệnh dễ lây lan và có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng đối với thai kỳ. Nhiễm cúm trong thời gian mang thai có thể dẫn đến 4 – 8% ca tử vong và làm tăng tỷ lệ tử vong chu sinh lên gấp 5 lần so với những phụ nữ không mắc cúm.

Cúm B là mối đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe của mẹ bầu và thai nhi. Để bảo vệ bản thân và em bé, các chuyên gia khuyến cáo phụ nữ mang thai nên tiêm phòng vắc xin cúm đầy đủ. Việc tiêm chủng sẽ giúp tạo ra lớp kháng thể bảo vệ, giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh và các biến chứng nguy hiểm do cúm gây ra.

Cúm B là gì?

Cúm B là một trong hai loại virus chính gây ra các đợt bùng phát cúm theo mùa bên cạnh cúm A, với khả năng lây lan cao và gây ra các triệu chứng điển hình như sốt, ho, đau đầu và ớn lạnh. Dù ít phổ biến hơn cúm A, cúm B vẫn là mối đe dọa nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng, đặc biệt khi chiếm khoảng 25% tổng số ca cúm được ghi nhận hàng năm tại Hoa Kỳ. Theo ước tính, khoảng 3 – 11% dân số Mỹ mắc cúm A hoặc cúm B mỗi năm; trong đó, cúm B có phần phổ biến hơn ở trẻ em trên năm tuổi. Virus cúm B tồn tại dưới hai chủng chính, gồm virus cúm B/Yamagata và B/Victoria.

Mặc dù cả cúm A và cúm B đều có thể gây ra các triệu chứng nghiêm trọng, phần lớn người bệnh thường hồi phục trong vòng một tuần mà không cần can thiệp y tế. Tuy nhiên, ở một số trường hợp triệu chứng kéo dài hoặc không cải thiện, các phương pháp điều trị như thuốc kháng virus có thể giúp rút ngắn thời gian bệnh, giảm mức độ nghiêm trọng và ngăn ngừa biến chứng. Cúm B đặc biệt nguy hiểm đối với người mắc các bệnh lý nền mạn tính như bệnh hen suyễn, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), bệnh ung thư, bệnh tiểu đường, bệnh tim, HIV/AIDS và phụ nữ mang thai.


Với đặc điểm lây lan chậm hơn so với cúm A, cúm B thường tiềm ẩn ở nhóm đối tượng cụ thể và đòi hỏi sự chú ý chặt chẽ trong việc kiểm soát để hạn chế tác động đến sức khỏe cộng đồng.

Cúm B có nguy hiểm với phụ nữ mang thai không?

Cúm B là bệnh nhiễm trùng đường hô hấp do virus cúm B gây ra. Virus cúm B có khả năng lây lan nhanh chóng qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết khi người bệnh ho, hắt hơi hoặc tiếp xúc với các bề mặt bị nhiễm virus. Mặc dù cúm B ít phổ biến hơn cúm A và đột biến chậm hơn khoảng 2 – 3 lần so với cúm A, nhưng cúm B vẫn có thể gây ra các triệu chứng nghiêm trọng, đặc biệt nguy hiểm ở phụ nữ mang thai.

Thai kỳ là giai đoạn cơ thể người phụ nữ trải qua nhiều thay đổi, đặc biệt là hệ miễn dịch suy giảm để bảo vệ thai nhi. Theo các nghiên cứu, phụ nữ mang thai có nguy cơ nhập viện vì cúm cao gấp 2,44 lần so với những phụ nữ không mang thai. Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) Hoa Kỳ cho biết, tỷ lệ phụ nữ mang thai mắc cúm cao nhất thường rơi vào tam cá nguyệt đầu tiên (3 tháng đầu thai kỳ) và nguy cơ mắc bệnh càng tăng cao khi bước vào mùa cúm.

Phụ nữ mang thai khi mắc cúm thường trải qua các triệu chứng như sổ mũi, sốt, ho, đau họng, mệt mỏi kéo dài và nghiêm trọng hơn so với người bình thường. Thời gian hồi phục của bà bầu nhiễm cúm có thể lâu hơn gấp 3 lần, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống. Đặc biệt, nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách, các triệu chứng này có thể dẫn đến những biến chứng nguy hiểm, đe dọa tính mạng cả mẹ và bé.

Cúm B có thể dẫn đến bội nhiễm và làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý nghiêm trọng như viêm phế quản, viêm phổi, ảnh hưởng đến chức năng hô hấp. Ngoài ra, bệnh cúm B cũng có thể gây ra những biến chứng ít gặp nhưng nguy hiểm như nhiễm trùng máu, giảm huyết áp, viêm tai giữa, viêm não, viêm màng não và viêm nội mạc tâm, có thể đe dọa đến sức khỏe và tính mạng của cả mẹ và thai nhi.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tỷ lệ tử vong chung do cúm ước tính lên tới 27%, trong đó hơn 50% phụ nữ mang thai mắc phải viêm phổi thứ phát do vi khuẩn.

Ngoài ra, cúm B còn có thể gây những hệ lụy nghiêm trọng với sự phát triển của thai nhi nếu không được điều trị kịp thời. Các yếu tố như hạn chế oxy do hệ hô hấp của mẹ bị ảnh hưởng, sốt cao kéo dài hay tình trạng viêm nhiễm đều có thể làm gián đoạn sự phát triển bình thường của thai nhi, khiến bé sinh ra thiếu cân hoặc phải đối diện các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng khác trong giai đoạn đầu đời.


Phụ nữ mang thai mắc cúm B rất nguy hiểm, có thể dẫn đến bội nhiễm và làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý nghiêm trọng như viêm phế quản, viêm phổi.

Cúm B ảnh hưởng đến thai nhi như thế nào?

Cúm B không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ bầu mà còn có thể gây ra những tác động tiêu cực đến thai nhi. Sốt do cúm vào đầu thai kỳ có thể tăng nguy cơ dị tật bẩm sinh như dị tật ống thần kinh, hở môi, nứt đốt sống và các vấn đình 50% và trong một số trường hợp lên đến 4 lần đối với những người bị cúm trong tam cá nguyệt đầu tiên của thai kỳ.

Ở 3 tháng cuối thai kỳ, nếu mẹ bầu mắc cúm, triệu chứng sốt cao kèm theo độc tính của virus cúm biểu hiện mạnh dễ kích thích tử cung co bóp gây sảy thai, chuyển dạ sớm (chuyển dạ trước 37 tuần mang thai), sinh non (sinh trước 37 tuần mang thai) hoặc thai chết lưu.

Một nghiên cứu được thực hiện trên 85.855 ca sinh từ phụ nữ trong độ tuổi từ 20 đến 45 đã chỉ ra rằng, nếu mẹ bầu bị nhiễm cúm trong tam cá nguyệt đầu tiên, nguy cơ mắc dị tật bẩm sinh có thể tăng trung bình 50% (tương đương với ề khác ở thai nhi. Dị tật ống thần kinh là dị tật bẩm sinh ở não và tủy sống. Nguy cơ dị tật bẩm sinh tăng trung b1,5 lần). Trong một so sánh chi tiết hơn, nguy cơ dị tật ống thần kinh có thể tăng mạnh lên đến 148% (tương đương với 2,48 lần), làm gia tăng mối nguy hiểm đối với sức khỏe của thai nhi.

Các nghiên cứu chỉ ra rằng, trung bình, nguy cơ phát triển khe hở môi và vòm miệng có thể tăng gấp 2,48 lần ở những đứa trẻ có mẹ bị nhiễm cúm trong tam cá nguyệt đầu tiên. Những trẻ này thường gặp khó khăn trong việc ăn uống và có thể đối mặt với các vấn đề về thính lực và phát âm. Ngoài ra, nguy cơ mắc các khuyết tật tim bẩm sinh cũng tăng trung bình 63% (1,63 lần), đặc biệt là nguy cơ bị hẹp eo động mạch chủ có thể lên đến bốn lần do nhiễm cúm trong giai đoạn đầu thai kỳ. Các nghiên cứu còn cho thấy, những đứa trẻ này cũng có nguy cơ cao gặp phải các dị tật về chi và mắt.


Mẹ bầu mắc cúm B ở 3 tháng đầu thai kỳ có thể tăng nguy cơ dị tật bẩm sinh như dị tật ống thần kinh, hở môi, nứt đốt sống ở thai nhi và 3 tháng cuối thai kỳ có thể dẫn đến tình trạng sinh non.

Biến chứng có thể xảy ra khi mẹ bầu bị cúm B

Cúm B là căn bệnh khó lường và có thể trở nên nghiêm trọng, đặc biệt là đối với phụ nữ mang thai, người già, trẻ nhỏ và những người có bệnh nền. Đây là nhóm đối tượng có nguy cơ cao gặp phải các biến chứng nguy hiểm khi mắc cúm B, bao gồm:

  • Viêm phổi: Virus cúm B có thể xâm nhập vào hệ hô hấp, gây viêm nhiễm phổi và làm tổn thương các túi khí trong phổi, khiến các túi khí này bị đầy chất lỏng, gây suy giảm khả năng trao đổi khí. Các triệu chứng điển hình của viêm phổi bao gồm ho có đờm màu vàng hoặc xanh, sốt cao, đau tức ngực khi ho hoặc thở, khó thở và mệt mỏi.
  • Nhiễm trùng huyết: Đây là tình trạng nghiêm trọng xảy ra khi viêm nhiễm lan rộng khắp cơ thể, bắt đầu từ phổi và có thể ảnh hưởng tới các cơ quan khác như đường tiết niệu, đường tiêu hóa, da. Nhiễm trùng huyết có thể dẫn đến tổn thương mô, suy cơ quan và gây tử vong nếu không được điều trị kịp thời.
  • Suy hô hấp: Cúm B có thể gây tổn thương hàng rào nội mô, làm rò rỉ chất lỏng vào các phế nang, dẫn đến suy hô hấp. Tình trạng này kéo dài sẽ làm cho việc thở trở nên khó khăn, với triệu chứng thở khò khè và khó thở, đồng thời tăng nguy cơ nhập viện và cần hỗ trợ thở máy. Tình trạng suy hô hấp có thể gây nguy hiểm đến tính mạng nếu không được xử lý sớm.
  • Viêm phế quản: Cúm B có thể gây viêm và sưng niêm mạc của ống phế quản, làm tắc nghẽn các đường hô hấp. Điều này có thể gây ra ho, khò khè và khó thở.
  • Đối với những người mắc các bệnh lý mạn tính như hen suyễn, suy tim sung huyết hay tiểu đường, bệnh cúm B có thể làm trầm trọng thêm các vấn đề sức khỏe sẵn có, dẫn đến biến chứng nặng hơn và tăng nguy cơ phải nhập viện.

Trường hợp khẩn cấp cần đến bác sĩ để chẩn đoán và điều trị

Trong hầu hết trường hợp, cúm B có thể được điều trị tại nhà bằng cách nghỉ ngơi, uống đủ nước, bổ sung dinh dưỡng hợp lý và tuân thủ chỉ định thuốc từ bác sĩ. Tuy nhiên, trong một số tình huống, bệnh có thể tiến triển nặng. CDC Hoa Kỳ khuyến cáo các nhóm đối tượng có nguy cơ cao như người trên 65 tuổi và phụ nữ mang thai, nên chủ động thăm khám bác sĩ để được chẩn đoán và điều trị kịp thời, tránh các biến chứng nghiêm trọng.

Một số triệu chứng khi mắc cúm B cần đến bác sĩ để được can thiệp bao gồm:

  • Sốt cao, kéo dài: Sốt trên 39 độ C và không giảm sau khi dùng thuốc hạ sốt.
  • Khó thở: Cảm thấy khó thở, thở gấp, tức ngực.
  • Đau ngực: Đau ngực dữ dội, nhất là khi hít thở sâu.
  • Mệt mỏi cực độ: Cảm thấy mệt mỏi, kiệt sức, không thể hoạt động.
  • Ho nhiều, có đờm màu xanh hoặc vàng: Ho dai dẳng, kèm theo đờm có màu bất thường.
  • Chóng mặt, hoa mắt: Cảm giác chóng mặt, hoa mắt, mất thăng bằng.
  • Tiêu chảy kéo dài, nôn ói nhiều gây khó chịu, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.


Khi mắc cúm, nếu gặp các triệu chứng sốt cao lâu ngày không thuyên giảm, khó thở, đau ngực… phụ nữ mang thai cần đến bệnh viện ngay để bác sĩ kiểm tra và đưa ra phương pháp điều trị kịp thời.

Cách phòng ngừa cúm B hiệu quả cho phụ nữ mang thai

Theo khuyến cáo của CDC Hoa Kỳ, phụ nữ mang thai nên tiêm vắc xin phòng cúm để bảo vệ sức khỏe của bản thân và thai nhi. Vắc xin cúm được sản xuất từ virus đã bị bất hoạt, không còn khả năng gây bệnh, vì vậy rất an toàn cho mẹ bầu, dù tiêm trong bất kỳ giai đoạn nào của thai kỳ, bao gồm trước, trong hay sau khi mang thai. Tiêm vắc xin cúm không chỉ giúp giảm nguy cơ mắc bệnh cúm mà còn bảo vệ thai nhi khỏi những biến chứng nguy hiểm liên quan đến cúm.

Khi phụ nữ mang thai tiêm vắc xin phòng cúm, cơ thể sẽ tạo ra kháng thể bảo vệ cho cả mẹ và thai nhi suốt quá trình mang thai, đồng thời kháng thể này còn có thể truyền sang em bé sau khi sinh và bảo vệ bé trong 6 tháng đầu đời. Để tăng cường bảo vệ cho trẻ, mẹ có thể tiêm vắc xin cúm cho trẻ khi trẻ đủ 6 tháng tuổi để có sự bảo vệ toàn diện trước nguy cơ mắc cúm và các biến chứng liên quan.

Các nghiên cứu thường niên của CDC Hoa Kỳ đã chứng minh rằng vắc xin cúm giúp giảm tỷ lệ mắc bệnh cúm từ 40 – 60%. Một nghiên cứu năm 2014 cũng cho thấy tiêm phòng cúm làm giảm đến 74% tỷ lệ nhập viện do cúm nặng ở khoa hồi sức nhi trong giai đoạn 2010 – 2012. Ngoài ra, các nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng tiêm vắc xin cúm có thể giảm tới 80% nguy cơ tử vong liên quan đến cúm, đồng thời giảm chi phí y tế và giảm thiểu tình trạng mất khả năng lao động do bệnh.

Hiện tại, Hệ thống tiêm chủng VNVC có đầy đủ 2 loại vắc xin phòng cúm B cho phụ nữ mang thai là vắc xin cúm tứ giá bất hoạt tiểu đơn vị và vắc xin cúm tứ giá bất hoạt dạng mảnh. Trong đó, vắc xin cúm tứ giá bất hoạt tiểu đơn vị giúp phòng được 4 chủng virus cúm gồm 2 chủng virus cúm A (A/H1N1 và A/H3N2) và 2 chủng virus cúm B (B/Victoria và B/Yamagata), được chỉ định tiêm cho trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên và người lớn. Lịch tiêm như sau:

Trẻ từ 6 tháng tuổi đến dưới 9 tuổi chưa tiêm cúm có lịch tiêm 2 mũi:

  •  Mũi 1: lần tiêm đầu tiên.
  •  Mũi 2: cách mũi 1 ít nhất 4 tuần và tiêm nhắc hàng năm.

Từ 9 tuổi trở lên:

  • Lịch tiêm 01 mũi duy nhất và nhắc lại hằng năm.

Tìm hiểu thông tin chi tiết và đăng ký tiêm vắc xin Cúm Tứ giá TẠI ĐÂY

Bên cạnh việc tiêm vắc xin phòng cúm, để tăng cường bảo vệ sức khỏe và phòng ngừa bệnh cúm, phụ nữ mang thai cần thực hiện một số biện pháp phòng bệnh quan trọng khác, bao gồm:

  • Che miệng khi ho/hắt hơi: Điều này giúp ngăn ngừa virus cúm lây lan ra không khí và bề mặt xung quanh.
  • Rửa tay thường xuyên: Rửa tay với xà phòng và nước sạch hoặc sử dụng dung dịch sát khuẩn để loại bỏ vi khuẩn và virus có thể xâm nhập vào cơ thể qua tay.
  • Khử trùng bề mặt và đồ dùng thường xuyên: Các bề mặt như tay nắm cửa, điện thoại, bàn làm việc… nên được vệ sinh và khử trùng thường xuyên để ngăn ngừa sự lây lan của vi khuẩn, virus.
  • Tránh chạm tay thường xuyên lên mũi/miệng/mắt: Đây là những khu vực dễ tiếp nhận vi khuẩn và virus từ tay, vì vậy hạn chế tiếp xúc với chúng sẽ giúp giảm nguy cơ nhiễm bệnh.
  • Đeo khẩu trang khi đi ra ngoài: Khẩu trang giúp ngăn ngừa sự lây lan của virus từ người bệnh sang người khỏe mạnh, đặc biệt trong những khu vực đông người.

Để phòng ngừa cúm B, phụ nữ mang thai nên đeo khẩu trang mỗi khi ra ngoài.

Tóm lại, cúm B có thể gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến thai nhi, bao gồm nguy cơ sảy thai, sinh non và các vấn đề về sức khỏe sau khi sinh. Vì vậy, việc phòng ngừa bệnh cúm trong thai kỳ là vô cùng quan trọng. Tiêm vắc xin phòng cúm không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe của mẹ mà còn bảo vệ thai nhi từ trong bụng mẹ đến khi em bé được 6 tháng tuổi. Bên cạnh việc tiêm vắc xin, các biện pháp phòng ngừa như rửa tay thường xuyên, đeo khẩu trang và tránh tiếp xúc với người mắc cúm cũng rất cần thiết để giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh.

nhận ưu đãi